CÔNG TY CP ĐT & PT THIÊN NAM
KCN Dệt May Bình An, Dĩ An, Bình Dương, Việt Nam

Điện Thoại:+ 84 274 3774 346
FAX:+84 274 3774 345

Human, Admin room:
hr@thiennamspinning.com

Sales room:
sales@thiennamspinning.com

Quốc hội giám sát các Hiệp định tự do FTA
2014-04-21 02:38:30

Ngày 15/4, Hội thảo "Quốc Hội với việc đàm phán, phê chuẩn và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA)” đã diễn ra tại Hà Nội.

Việt Nam đã trở hành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết 8 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á, các nền kinh tế láng giềng khu vực như ASEAN, Trung Quốc,  Hoa Kỳ, EU… Những hiệp định này đã đánh dấu bước tiến vững chắc của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. 

Ngoài TPP, hiện Việt Nam đang có 5 FTA mới đang đàm phán, gồm: Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA),  Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Karzakstan (VCUFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN+6 (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Khối EFTA (VEFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA).

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách TMQT, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho biết, việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam. FTA mới này sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam ngoài những cơ hội từ FTA đang có như: Lợi ích xuất khẩu lớn (đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực), cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ sạch và hiện đại, tiếp cận nguồn vốn đầu tư chất lượng, loại bỏ thuế quan, minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu… "Dù vậy, song song với những cơ hội từ FTA mới doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức khá lớn. Doanh nghiệp có thể để vuột mất các cơ hội xuất khẩu nếu không biết về cơ hội để tận dụng (TPP - đàm phán kín), không đủ điều kiện để ưu đãi thuế quan (quy tắc xuất xứ mới, thủ tục chứng nhận xuất xứ mới). Thêm nữa, doanh nghiệp trong nước còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, đối mặt với các rào cản trá hình mới trong bối cảnh các vụ kiện phòng vệ thương mại ở các thị trường vốn đã nổi tiếng "hung hăng…”.

Mong mỏi của các doanh nghiệp là khi đàm phán đang diễn ra là được tiếp cận thông tin đàm phán, được hướng dẫn để xác định, đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, được tham vấn thực chất và thường xuyên. Thêm nữa, khi FTA đã ký kết thì cần cung cấp cho doanh nghiệp thông tin chính xác, đầy đủ, có thể hiểu được về các FTA, hướng dẫn cho họ cách thức thực tế để tận dụng các cơ hội từ FTA, và đặc biệt là tư vấn về các FTA cho doanh nghiệp khi họ cần. "FTA mới cũng sẽ tạo sức ép tinh thần, sức ép pháp lý để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh. Những quy định chặt chẽ trong TPP nói lên rằng, những gì không phải là kinh tế thị trường thì xóa bỏ hết. Điều đó tác động đến cả thể chế, cả cách điều hành kinh tế. TPP cũng sẽ tạo điều kiện và sức ép để Việt Nam xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp cũng chính là bộ mặt của nền kinh tế, làm nên sức mạnh của nền kinh tế”.

Hiệp định TPP đang mở ra cho ngành dệt may cơ hội tăng gấp 3 lần kim ngạch XK vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, để có thể tận dụng tối đa các ưu thế mà TPP đem lại, ngay từ bây giờ các DN dệt may phải có những bước chuẩn bị cần thiết, trong đó việc xây dựng mối liên kết giữa các DN dệt và may được coi là một yếu tố quan trọng để có thể đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ của TPP. Phát triển công nghiệp hỗ trợ là giải pháp quan trọng giúp các DN dệt may trong nước nắm bắt và tận dụng được cơ hội TPP mang lại. Cho nên, cần có quy hoạch phát triển dệt may trong nước cả về địa lý và nguồn lực lao động, vì đây là ngành sử dụng nhiều lao động. Chính sách kêu gọi đầu tư vào dệt may phải chú ý tới trình độ công nghệ, môi trường cho dự án đầu tư, tránh tình trạng dịch chuyển công nghệ cũ, lạc hậu về Việt Nam; công khai và có cam kết của các địa phương trong việc dành quỹ đất cho các dự án đầu tư dệt - nhuộm hoàn tất.

Khi quy mô sản xuất tăng, đòi hỏi hệ thống hạ tầng nối các trung tâm thiết kế với khu vực sản xuất, trung tâm ICD (cảng nội địa) và cảng biển phải hoàn thiện. Các DN cần xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn; đẩy mạnh hoạt động thiết kế, chào bán mẫu thiết kế cho các nhà nhập khẩu và xây dựng thương hiệu hàng hóa,... Một điểm quan trọng là các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành Quy hoạch phát triển ngành dệt may đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó xác định rõ vai trò, vị trí, quy mô của ngành dệt may.

Nguồn: Vinatex

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Theo dữ liệu của Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA), xuất khẩu sợi bông từ Thái Lan đã đạt 217,495 triệu USD năm ngoái, tăng 66,4%.

Theo báo cáo Thailand Cotton 2014 của USDA, Thái Lan đã xuất khẩu 63.821 tấn sợi bông, đạt tổng 217,495 triệu USD, trong khi năm 2012 chỉ xuất khẩu được 33.908 tấn sợi bông trị giá 130,693 triệu USD.

Trung Quốc là đích đến chính của sợi bông Thái Lan trong năm 2013, với việc Thái Lan đã xuất khẩu 42.115 tấn sợi bông trị giá 121,546 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 4.850 tấn đạt giá trị 27,322 triệu USD, Hàn Quốc – 3.735 tấn đạt giá trị 14,217 triệu USD, Sri Lanca – 1.979 tấn trị giá 8,546 triệu USD và Malaysia – 1.822 tấn trị giá 7,784 triệu USD.

Trong khi đó Thái Lan đã nhập khẩu 11.166 tấn sợi bông đạt tổng 60,195 triệu USD, giảm 9,4% so với nhập khẩu sợi bông 14.375 tấn trị giá 66,469 triệu USD trong năm 2012.

Theo báo cáo của USDA, Trung Quốc là nước cung cấp chính sợi bông cho Thái Lan trong năm ngoái - 3.657 tấn trị giá 27,805 triệu USD. Ấn Độ đứng thứ hai với việc Thái Lan nhập khẩu 3.848 tấn sợi bông trị giá 15,749 triệu USD, tiếp theo là Nhật Bản với 867 tấn tổng giá trị 3,646 triệu USD, Indonesia - 611 tấn trị giá 3,257 triệu USD và Ai Cập – 412 tấn trị gía 2,455 triệu USD.

Trong năm 2011, Thái Lan đã xuất khẩu 28.922 tấn sợi bông có giá trị 153,435 triệu USD, trong khi nhập khẩu 14.277 tấn sợi bông trị giá 76,008 triệu USD.

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-chuyen-nganh/4354/xuat-khau-soi-bong-cua-thai-lan-tang-664-trong-nam-2013.html#sthash.Jf5Y3TAG.dpuf

Ngày 15/4, Hội thảo "Quốc Hội với việc đàm phán, phê chuẩn và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA)” đã diễn ra tại Hà Nội.

Việt Nam đã trở hành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết 8 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á, các nền kinh tế láng giềng khu vực như ASEAN, Trung Quốc,  Hoa Kỳ, EU… Những hiệp định này đã đánh dấu bước tiến vững chắc của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. 

Ngoài TPP, hiện Việt Nam đang có 5 FTA mới đang đàm phán, gồm: Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA),  Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Karzakstan (VCUFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN+6 (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Khối EFTA (VEFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA).

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách TMQT, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho biết, việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam. FTA mới này sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam ngoài những cơ hội từ FTA đang có như: Lợi ích xuất khẩu lớn (đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực), cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ sạch và hiện đại, tiếp cận nguồn vốn đầu tư chất lượng, loại bỏ thuế quan, minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu… "Dù vậy, song song với những cơ hội từ FTA mới doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức khá lớn. Doanh nghiệp có thể để vuột mất các cơ hội xuất khẩu nếu không biết về cơ hội để tận dụng (TPP - đàm phán kín), không đủ điều kiện để ưu đãi thuế quan (quy tắc xuất xứ mới, thủ tục chứng nhận xuất xứ mới). Thêm nữa, doanh nghiệp trong nước còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, đối mặt với các rào cản trá hình mới trong bối cảnh các vụ kiện phòng vệ thương mại ở các thị trường vốn đã nổi tiếng "hung hăng…”.

Mong mỏi của các doanh nghiệp là khi đàm phán đang diễn ra là được tiếp cận thông tin đàm phán, được hướng dẫn để xác định, đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, được tham vấn thực chất và thường xuyên. Thêm nữa, khi FTA đã ký kết thì cần cung cấp cho doanh nghiệp thông tin chính xác, đầy đủ, có thể hiểu được về các FTA, hướng dẫn cho họ cách thức thực tế để tận dụng các cơ hội từ FTA, và đặc biệt là tư vấn về các FTA cho doanh nghiệp khi họ cần. "FTA mới cũng sẽ tạo sức ép tinh thần, sức ép pháp lý để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh. Những quy định chặt chẽ trong TPP nói lên rằng, những gì không phải là kinh tế thị trường thì xóa bỏ hết. Điều đó tác động đến cả thể chế, cả cách điều hành kinh tế. TPP cũng sẽ tạo điều kiện và sức ép để Việt Nam xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp cũng chính là bộ mặt của nền kinh tế, làm nên sức mạnh của nền kinh tế”.

Hiệp định TPP đang mở ra cho ngành dệt may cơ hội tăng gấp 3 lần kim ngạch XK vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, để có thể tận dụng tối đa các ưu thế mà TPP đem lại, ngay từ bây giờ các DN dệt may phải có những bước chuẩn bị cần thiết, trong đó việc xây dựng mối liên kết giữa các DN dệt và may được coi là một yếu tố quan trọng để có thể đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ của TPP. Phát triển công nghiệp hỗ trợ là giải pháp quan trọng giúp các DN dệt may trong nước nắm bắt và tận dụng được cơ hội TPP mang lại. Cho nên, cần có quy hoạch phát triển dệt may trong nước cả về địa lý và nguồn lực lao động, vì đây là ngành sử dụng nhiều lao động. Chính sách kêu gọi đầu tư vào dệt may phải chú ý tới trình độ công nghệ, môi trường cho dự án đầu tư, tránh tình trạng dịch chuyển công nghệ cũ, lạc hậu về Việt Nam; công khai và có cam kết của các địa phương trong việc dành quỹ đất cho các dự án đầu tư dệt - nhuộm hoàn tất.

Khi quy mô sản xuất tăng, đòi hỏi hệ thống hạ tầng nối các trung tâm thiết kế với khu vực sản xuất, trung tâm ICD (cảng nội địa) và cảng biển phải hoàn thiện. Các DN cần xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn; đẩy mạnh hoạt động thiết kế, chào bán mẫu thiết kế cho các nhà nhập khẩu và xây dựng thương hiệu hàng hóa,... Một điểm quan trọng là các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành Quy hoạch phát triển ngành dệt may đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó xác định rõ vai trò, vị trí, quy mô của ngành dệt may.

Nguồn: Vinatex

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-kinh-te/4355/quoc-hoi-giam-sat-cac-hiep-dinh-tu-do-fta.html#sthash.H2mdZvm5.dpuf

Ngày 15/4, Hội thảo "Quốc Hội với việc đàm phán, phê chuẩn và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA)” đã diễn ra tại Hà Nội.

Việt Nam đã trở hành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết 8 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á, các nền kinh tế láng giềng khu vực như ASEAN, Trung Quốc,  Hoa Kỳ, EU… Những hiệp định này đã đánh dấu bước tiến vững chắc của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. 

Ngoài TPP, hiện Việt Nam đang có 5 FTA mới đang đàm phán, gồm: Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA),  Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Karzakstan (VCUFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN+6 (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Khối EFTA (VEFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA).

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách TMQT, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho biết, việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam. FTA mới này sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam ngoài những cơ hội từ FTA đang có như: Lợi ích xuất khẩu lớn (đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực), cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ sạch và hiện đại, tiếp cận nguồn vốn đầu tư chất lượng, loại bỏ thuế quan, minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu… "Dù vậy, song song với những cơ hội từ FTA mới doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức khá lớn. Doanh nghiệp có thể để vuột mất các cơ hội xuất khẩu nếu không biết về cơ hội để tận dụng (TPP - đàm phán kín), không đủ điều kiện để ưu đãi thuế quan (quy tắc xuất xứ mới, thủ tục chứng nhận xuất xứ mới). Thêm nữa, doanh nghiệp trong nước còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, đối mặt với các rào cản trá hình mới trong bối cảnh các vụ kiện phòng vệ thương mại ở các thị trường vốn đã nổi tiếng "hung hăng…”.

Mong mỏi của các doanh nghiệp là khi đàm phán đang diễn ra là được tiếp cận thông tin đàm phán, được hướng dẫn để xác định, đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, được tham vấn thực chất và thường xuyên. Thêm nữa, khi FTA đã ký kết thì cần cung cấp cho doanh nghiệp thông tin chính xác, đầy đủ, có thể hiểu được về các FTA, hướng dẫn cho họ cách thức thực tế để tận dụng các cơ hội từ FTA, và đặc biệt là tư vấn về các FTA cho doanh nghiệp khi họ cần. "FTA mới cũng sẽ tạo sức ép tinh thần, sức ép pháp lý để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh. Những quy định chặt chẽ trong TPP nói lên rằng, những gì không phải là kinh tế thị trường thì xóa bỏ hết. Điều đó tác động đến cả thể chế, cả cách điều hành kinh tế. TPP cũng sẽ tạo điều kiện và sức ép để Việt Nam xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp cũng chính là bộ mặt của nền kinh tế, làm nên sức mạnh của nền kinh tế”.

Hiệp định TPP đang mở ra cho ngành dệt may cơ hội tăng gấp 3 lần kim ngạch XK vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, để có thể tận dụng tối đa các ưu thế mà TPP đem lại, ngay từ bây giờ các DN dệt may phải có những bước chuẩn bị cần thiết, trong đó việc xây dựng mối liên kết giữa các DN dệt và may được coi là một yếu tố quan trọng để có thể đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ của TPP. Phát triển công nghiệp hỗ trợ là giải pháp quan trọng giúp các DN dệt may trong nước nắm bắt và tận dụng được cơ hội TPP mang lại. Cho nên, cần có quy hoạch phát triển dệt may trong nước cả về địa lý và nguồn lực lao động, vì đây là ngành sử dụng nhiều lao động. Chính sách kêu gọi đầu tư vào dệt may phải chú ý tới trình độ công nghệ, môi trường cho dự án đầu tư, tránh tình trạng dịch chuyển công nghệ cũ, lạc hậu về Việt Nam; công khai và có cam kết của các địa phương trong việc dành quỹ đất cho các dự án đầu tư dệt - nhuộm hoàn tất.

Khi quy mô sản xuất tăng, đòi hỏi hệ thống hạ tầng nối các trung tâm thiết kế với khu vực sản xuất, trung tâm ICD (cảng nội địa) và cảng biển phải hoàn thiện. Các DN cần xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn; đẩy mạnh hoạt động thiết kế, chào bán mẫu thiết kế cho các nhà nhập khẩu và xây dựng thương hiệu hàng hóa,... Một điểm quan trọng là các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành Quy hoạch phát triển ngành dệt may đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó xác định rõ vai trò, vị trí, quy mô của ngành dệt may.

Nguồn: Vinatex

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-kinh-te/4355/quoc-hoi-giam-sat-cac-hiep-dinh-tu-do-fta.html#sthash.H2mdZvm5.dpuf

Ngày 15/4, Hội thảo "Quốc Hội với việc đàm phán, phê chuẩn và thực hiện các hiệp định thương mại tự do (FTA)” đã diễn ra tại Hà Nội.

Việt Nam đã trở hành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), ký kết 8 hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia tập trung chủ yếu tại khu vực châu Á, các nền kinh tế láng giềng khu vực như ASEAN, Trung Quốc,  Hoa Kỳ, EU… Những hiệp định này đã đánh dấu bước tiến vững chắc của Việt Nam trong quá trình hội nhập và phát triển. 

Ngoài TPP, hiện Việt Nam đang có 5 FTA mới đang đàm phán, gồm: Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - EU (EVFTA),  Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Liên minh thuế quan Nga - Belarus - Karzakstan (VCUFTA), Hiệp định Thương mại Tự do ASEAN+6 (RCEP), Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Khối EFTA (VEFTA) và Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam - Hàn Quốc (VKFTA).

Ông Trần Hữu Huỳnh, Chủ tịch Ủy ban Tư vấn Chính sách TMQT, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài Quốc tế Việt Nam cho biết, việc tham gia đàm phán và ký kết các hiệp định thương mại tự do tạo ra những cơ hội thuận lợi nhưng cũng đặt ra nhiều thách thức đối với Việt Nam. FTA mới này sẽ mang lại nhiều cơ hội hơn cho các doanh nghiệp Việt Nam ngoài những cơ hội từ FTA đang có như: Lợi ích xuất khẩu lớn (đặc biệt đối với các mặt hàng xuất khẩu chủ lực), cơ hội tiếp cận thiết bị, công nghệ sạch và hiện đại, tiếp cận nguồn vốn đầu tư chất lượng, loại bỏ thuế quan, minh bạch hóa, đơn giản hóa thủ tục nhập khẩu… "Dù vậy, song song với những cơ hội từ FTA mới doanh nghiệp Việt Nam cũng sẽ phải đối mặt với các thách thức khá lớn. Doanh nghiệp có thể để vuột mất các cơ hội xuất khẩu nếu không biết về cơ hội để tận dụng (TPP - đàm phán kín), không đủ điều kiện để ưu đãi thuế quan (quy tắc xuất xứ mới, thủ tục chứng nhận xuất xứ mới). Thêm nữa, doanh nghiệp trong nước còn phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường nội địa, đối mặt với các rào cản trá hình mới trong bối cảnh các vụ kiện phòng vệ thương mại ở các thị trường vốn đã nổi tiếng "hung hăng…”.

Mong mỏi của các doanh nghiệp là khi đàm phán đang diễn ra là được tiếp cận thông tin đàm phán, được hướng dẫn để xác định, đánh giá tác động đối với doanh nghiệp, được tham vấn thực chất và thường xuyên. Thêm nữa, khi FTA đã ký kết thì cần cung cấp cho doanh nghiệp thông tin chính xác, đầy đủ, có thể hiểu được về các FTA, hướng dẫn cho họ cách thức thực tế để tận dụng các cơ hội từ FTA, và đặc biệt là tư vấn về các FTA cho doanh nghiệp khi họ cần. "FTA mới cũng sẽ tạo sức ép tinh thần, sức ép pháp lý để Việt Nam xây dựng một nền kinh tế thị trường có sức cạnh tranh. Những quy định chặt chẽ trong TPP nói lên rằng, những gì không phải là kinh tế thị trường thì xóa bỏ hết. Điều đó tác động đến cả thể chế, cả cách điều hành kinh tế. TPP cũng sẽ tạo điều kiện và sức ép để Việt Nam xây dựng một đội ngũ doanh nghiệp mạnh. Doanh nghiệp cũng chính là bộ mặt của nền kinh tế, làm nên sức mạnh của nền kinh tế”.

Hiệp định TPP đang mở ra cho ngành dệt may cơ hội tăng gấp 3 lần kim ngạch XK vào thị trường Mỹ. Tuy nhiên, để có thể tận dụng tối đa các ưu thế mà TPP đem lại, ngay từ bây giờ các DN dệt may phải có những bước chuẩn bị cần thiết, trong đó việc xây dựng mối liên kết giữa các DN dệt và may được coi là một yếu tố quan trọng để có thể đáp ứng được các yêu cầu về quy tắc xuất xứ của TPP. Phát triển công nghiệp hỗ trợ là giải pháp quan trọng giúp các DN dệt may trong nước nắm bắt và tận dụng được cơ hội TPP mang lại. Cho nên, cần có quy hoạch phát triển dệt may trong nước cả về địa lý và nguồn lực lao động, vì đây là ngành sử dụng nhiều lao động. Chính sách kêu gọi đầu tư vào dệt may phải chú ý tới trình độ công nghệ, môi trường cho dự án đầu tư, tránh tình trạng dịch chuyển công nghệ cũ, lạc hậu về Việt Nam; công khai và có cam kết của các địa phương trong việc dành quỹ đất cho các dự án đầu tư dệt - nhuộm hoàn tất.

Khi quy mô sản xuất tăng, đòi hỏi hệ thống hạ tầng nối các trung tâm thiết kế với khu vực sản xuất, trung tâm ICD (cảng nội địa) và cảng biển phải hoàn thiện. Các DN cần xây dựng chiến lược phát triển liên kết nội khối tạo chuỗi sản xuất lớn để có khả năng nhận những đơn hàng lớn; đẩy mạnh hoạt động thiết kế, chào bán mẫu thiết kế cho các nhà nhập khẩu và xây dựng thương hiệu hàng hóa,... Một điểm quan trọng là các cơ quan quản lý nhà nước cần sớm ban hành Quy hoạch phát triển ngành dệt may đến năm 2030, tầm nhìn 2050, trong đó xác định rõ vai trò, vị trí, quy mô của ngành dệt may.

Nguồn: Vinatex

- See more at: http://www.vcosa.org.vn/vi/tin-kinh-te/4355/quoc-hoi-giam-sat-cac-hiep-dinh-tu-do-fta.html#sthash.H2mdZvm5.dpuf